Thánh PhaoLô

Vài nét sử học về cuộc đời Thánh Phaolô

1. Tên

Trong các thư của Ngài, Thánh Tông Đồ tự gọi mình là Paulos, một tên cũng đã được thư thứ hai của Thánh Phêrô (3:15) và sách Tông Đồ Công Vụ từ chương 13:9 dùng. Trước đó, sách Công Vụ dùng tên Saulos để gọi Thánh Tông Đồ Dân Ngoại (7:58; 8:1,3;9:1…). Đấy là hình thức Hy Ngữ của Saoul. Cách viết này chỉ thấy trong các trình thuật đối thoại (9:4, 17; 22:7, 13;26:14) và thay cho từ Hi Bá Lai Sa’ul, là tên vị vua đầu tiên của Do Thái (1Sm 9:2, 17; xem Cv 13:21). Từ này có nghĩa “được hỏi” (về Chúa hay về Giavê). Công Vụ 13:9 thay tên Saul bằng tên Paul (ngoại trừ sau này có lần vẫn dùng tên Saoul): Saulos de kai Paulos (Saul, cũng được gọi là Paul). Tên Paulos là hình thức Hy Ngữ của một tên họ rất nổi tiếng của người La Mã, Paul(l)us, được giới qúy tộc ưa dùng, như các dòng họ Vettenii và Sergii. Người ta chỉ có thể phỏng đoán lý do tại sao Thánh Phaolô có tên La Mã này. Việc Saul bắt đầu được gọi là Paul chỉ là trùng hợp khi sách Công Vụ thuật lại câu truyện thống đốc La Mã là Sergius Paulus trở lại đạo (13:7-12); vì khó có thể cho rằng Thánh Phaolô lại đi mang tên của người tân tòng nổi danh đến từ Cyprus này (Thánh Giêrôm:In Ep. Ad Philem, 1…). Có lẽ thánh nhân vốn được gọi là Paulus từ lúc mới sinh, còn tên Saoul chỉ là signum hay supernomen (tên thêm vào) được sử dụng giữa các giới Do Thái với nhau. Nhiều người Do Thái thời ấy vẫn có thói quen có hai tên: một tên Do Thái (Saul), còn tên kia là tên La Mã hay Hy lạp (Paul) (xem Cv 1:23; 10:18;13:1). Các tên ấy thường được chọn do các âm giống nhau. Chứ thực ra không có bằng chứng gì là tên Saul đã được đổi thành Paul lúc thánh nhân trở lại đạo; vì tên Saulos vẫn còn tiếp tục được dùng sau biến cố trở lại kia. Việc ‘chuyển đổi’ tên ở Công Vụ 13:9 có thể do các nguồn tín liệu khác nhau của thánh Luca mà thôi.

2. Nguồn và các niên biểu trong cuộc đời Thánh Phaolô

Những điều ít ỏi ta biết về cuộc đời Thánh Phaolô là do hai nguồn sau đây cung cấp:

(1) các đoạn thư chính hiệu của ngài nhất là 1Tx 2:1-2,17-18; 3:1-3a; Gl 1:13-23;2:1-14; 4:13; Pl 3:5-6; 4:15-16; 1Cor 5:9; 7:7-8; 16:1-9; 2Cor:2-1, 9-13; 11:7-9, 23-27, 32-33; 12”2-4, 14, 21; 13:1,10; Rm 11:1c; 15:19b, 22-23; 16:1;

(2) các đoạn trong Sách Công Vụ 7:58; 8:1-3; 9:1-30; 11:25-30; 12:25; 13:1-28:31. Các đoạn trong đệ nhị thư Phaolô cũng như các Thư Mục Vụ đều có giá trị không chắc chắn và do đó chỉ được dùng để hỗ trợ các chi tiết của các nguồn kia.

Tuy nhiên, chính chi tiết do hai nguồn trên cung cấp cũng không có giá trị ngang nhau. Khi dựng lại cuộc đời thánh Phaolô, chúng ta nên coi trọng các chi tiết do chính Thánh Phaolô tự nói về Ngài hơn là các chi tiết do Thánh Luca cung cấp vì một lẽ giản dị là Thánh Luca chịu ảnh hưởng nhiều bởi thể văn cũng như quan tâm thần học của mình. Các tác giả gần đây như J. Knox, D.W.Riddle, R.Jewett, G. Ludermann, J.Murphy-O’Connor v.v… đã cố gắng dựng lại cuộc đời vị tông đồ này bằng cách dựa phần lớn vào các dữ kiện do ngài cung cấp mà ít chịu dùng các tư liệu của Tông Đồ Công Vụ. Tuy nhiên, có lúc các tác giả này cũng buộc phải dùng các tư liệu của Sách sau để giải quyết một số vấn đề của họ như đoạn Thánh Phaolô xuất hiện trước Gallio (18:12), 18 tháng lưu lại Côrintô (18:11) và gốc gác Lystra của Timôtê (16:2-3). Thành thử ta buộc phải dựa vào cả hai để dựng lại cuộc đời Thánh Phaolô theo thứ tự thời gian, nhất là những chi tiết cần thiết chỉ có Công Vụ mới có, miễn là các chi tiết này không mâu thuẫn với các chi tiết do Thánh Phaolô cung cấp.

Trong việc này, ta có thể dựa vào T. H. Campbell trong cuốn Paul’s Missionary Journeys. Theo tác giả này, các đoạn trích thư Thánh Phaolô trên đây cho thấy thứ tự các biến cố trong đời Thánh Phaolô từ lúc ngài trở lại cho tới lúc ngài tới Rôma và thứ tự này khá ăn khớp với thứ tự trong Công Vụ.

Tuy nhiên, cần ghi nhận các dị biệt trong trình tự này: (1) Thánh Luca không nhắc gì tới việc Thánh Phaolô lui về “Arabia” (Gl 1:17b); (2) Thánh Luca gom các hoạt động truyền giáo của Thánh Phaolô vào ba khối: I: 13:1-14:28; II: 15:36-18:22; III: 18:23-21:16. Nhiều nhà phê bình cho rằng hành trình truyền giáo I hoàn toàn là sản phẩm của Thánh Luca…(3) Theo thánh Luca, dịp để Thánh Phaolô thoát khỏi Đamát là âm mưu của người Do Thái (Cv 9:23; ngược với 2 Cor 11:32). (4) Thánh Luca cho rằng Saolô “tán thành” cái chết của tử đạo Stêphanô (Cv 7:58-8:1; xem thêm 22:20), trong khi Thánh Phaolô chỉ nói là Ngài bách hại “giáo hội của Thiên Chúa” (Gl 1:13) hay bách hại “giáo hội” (Pl 3:6) mà thôi chứ không nhắc đến tên Stêphanô.

Thành ra thứ tự thời gian mà chúng ta cố gắng dựng lại ở đây chỉ là cố gắng tương đối mà thôi. Theo thư của Thánh Phaolô, biến cố duy nhất có thể nên niên biểu ngoại thánh kinh chính là việc ngài thoát khỏi Đamát (2Cor 11:32-33). Tổng đốc của vua Arêta đã cho lính canh gác để bắt thánh nhân, nhưng Ngài thoát được nhờ tín hữu cho Ngài vào cái thúng rồi thòng qua cửa sổ dọc theo tường thành mà đưa xuống đất (đối chiếu với Cv 9:24-25).Việc ấy xẩy ra cuối thời gian 3 năm thánh nhân lưu lại Đamát (Gl 1:17c-18). Vì Đamát nằm dưới sự thống trị của La Mã cho tới tận ngày Tiberius băng hà (tháng Ba, năm 37 CN; xem Josephus, Ant.18.5.3#124) và vua Arêta IV Philopatris (9 trước CN – 39 CN) người Nabatean được Hoàng Đế Gaius Caligula ban quyền cai trị, nên việc Thánh Phaolô thoát khỏi Đamát hẳn phải xẩy ra giữa các năm 37 và 39 CN, có lẽ vào chính năm 39 CN. Thánh nhân trở lại trước đó ba năm, thành thử là năm 36 CN.

Còn đối với sách Tông Đồ Công Vụ, ta thấy các dữ kiện ngoại thánh kinh trong năm biến cố xẩy ra trong cuộc đời Thánh Phaolô. Theo thứ tự từ quan trọng nhất đi xuống, năm biến cố ấy là:

(1) Thời L.Junius Gallio Annaeus làm thống đốc Achaia. Thánh Phaolô bị dẫn tới trước viên thống đốc này tại Côrintô (Cv 18:12). Tác giả Murphy-O’Connor, trong Corinth 141, cho rằng đây là “một mắt xích được hầu hết các học giả nối kết sự nghiệp của Thánh Phaolô với lịch sử phổ quát”, mặc dù biến cố này chỉ được một mình Thánh Luca thuật lại. Thời Gallio làm thống đốc được nhắc tới trên một tấm khắc bằng tiếng Hy Lạp tại đền thờ Apollo và được E. Bourquet tìm thấy ở Delphi trong năm 1905 và 1910. Nhưng hai lần tìm kiếm ấy chỉ là những mảnh vụn. Phải đợi tới năm 1970, A. Plassart mới công bố được trọn tấm khắc ấy với hết mọi mảnh vụn của nó. Đó là bản chép thư hoàng đế Claudius gửi cho thành Delphi đề cập đến các vấn đề giảm dân. Bức thư đó có đoạn như sau: “Tiberius Claudius Caesar Augustus Germanicus, với thẩm quyền tài phán năm thứ 12, được phong làm tổng tư lệnh (imperator) kỳ thứ 26, Cha Tổ Quốc…Đã lâu trẫm không những vẫn nghĩ tốt cho thành Delphi, mà còn rất quan tâm tới sự thịnh vượng của nó…Nhưng nay, vì có tin thành phố đang mất đi nhiều công dân của mình, như lời L. Junius Gallio, người bạn của ta và là thống đốc, mới đây vừa tường trình, và vì rất muốn cho thành phố duy trì vị thế trước đây của nó, ta truyền cho các ông phải mời những người có tư cách từ các thành phố khác tới Delphi làm cư dân mới…”.

Theo bản văn trên, ta có thể diễn dịch như sau: Gallio là thống đốc Achaia vào năm 12 triều hoàng đế Claudius, sau khi hoàng đế này được phong là ‘tổng tư lệnh’. Quyền tài phán (tribunician power), quyền được trao cho hoàng đế mỗi năm, là biểu hiệu năm cầm quyền của hoàng đế, trong khi chức ‘tổng tư lệnh’ được ban tặng cho ông sau một chiến thắng quân sự hiển hách. Muốn định niên biểu cho việc ban tặng này, người ta phải tìm hiểu năm ban tặng. Theo các bản khắc khác, thì các lần ban tặng từ 22 tới 25 xẩy ra vào năm thứ 11 triều Claudius và lần ban tặng thứ 27 xẩy ra vào năm thứ 12 triều đại ông này, trước ngày 1 tháng Tám năm 52 CN. Như thế lần ban tặng thứ 26 hẳn phải xẩy ra trước mùa đông năm 51 hay trong mùa xuân năm 52 CN. Mà năm 12 triều Claudius bắt đầu ngày 25 tháng Giêng năm 52. Như thế, cả hai yếu tố trên gộp lại, thì hẳn Gallio làm thống đốc Achaia đầu năm 52 CN.

Achaia là một tỉnh thuộc thượng viện, nghĩa là được cai trị bởi một thống đốc do thượng viện chỉ định. Vị thống đốc này thường nắm giữ chức vụ trong một năm và thường nhậm chức vào ngày 1 tháng Sáu và rời chức vụ vào giữa tháng Tư. Thư của Claudius cho hay Gallio phúc trình cho ông ta về tình hình của Delphi. Như thế có nghĩa Gallio đã có mặt tại Achaia rồi, nên chắc chắn đã phúc trình cho ông vào cuối mùa xuân hay đầu mùa hạ năm 52 CN, nghĩa là vào cuối thời Gallio làm thống đốc ở đấy (tháng Sáu năm 51 tới tháng Năm năm 52) hay đầu năm từ tháng Sáu năm 52 tới tháng Năm năm 53 CN. Vì Seneca, em trai Gallio, cho rằng anh mình mắc chứng sốt tại Achaia và phải “lên tầu ngay” (Ep.104.1), nên có thể Gallio đã rút ngắn thời gian lưu lại Achaia và về nhà sớm. Điều ấy rất có thể có nghĩa là Gallio vốn có mặt tại Achaia vào cuối xuân và mùa hè năm 52 và bỏ đó không trễ hơn cuối tháng Mười, trước khi mare clausum, nghĩa là biển trở nên sóng gió không thể hải hành đuợc. Bởi thế, Thánh Phaolô chắc hẳn đã bị điệu ra trước Gallio đâu đó vào mùa hạ hay đầu mùa thu năm 52. Vì ở Côrintô tới 18 tháng, nên có lẽ ngài đã tới đó đầu năm 51 (xem Cv 18:11).

(2) Việc người Do Thái bị Claudius trục xuất khỏi Rôma (Cv 18:2c), được Thánh Luca liên kết với việc Aquila và Priscilla tới Côrintô, những người sẽ cùng cư ngụ với Thánh Phaolô. Suetonius (Claudius 25) thuật lại: “Ngài trục xuất khỏi Rôma những người Do Thái đang tạo bất ổn do sự xúi bẩy của Chrestus”. Nếu hiểu “do sự xúi bẩy của Chrestus” (chữ này vào thời của Suetonius được đọc là Christos) là kiểu nói lầm chỉ cuộc tranh luận về việc Chúa Giêsu có phải là Đấng Kitô hay không, thì có lẽ Suetonius có ý thuật lại cuộc xung đột giữa người Do Thái Giáo và người Kitô hữu gốc Do Thái. Nhà sử học Kitô giáo thế kỷ thứ 5 là P. Orosius (His.Adv.pag. 7.6.15-16; Corpus Sriptorum Ecclesiasticorum Latinorum 5.451), khi trích dẫn bản văn của Suetonius, đã định niên biều cho cuộc trục xuất kia vào năm thứ 9 triều đại Claudius (25 tháng Giêng năm 49 tới 24 tháng Giêng năm 50 CN). Tuy nhiên, vì Orosius cho hay Josephus thuật lại việc trục xuất này trong khi Josephus không đề cập gì tới nó, nên một số học giả tỏ vẻ hoài nghi giá trị chứng cớ của ông. Không ai biết do nguồn nào Orosius định được năm thứ 9. Tuy nhiên, niên biểu này được đa số học giả coi là tin được, như E.M. Smallwood trong “The Jews under Roman Rule,[Studies in Judaism in Late Antiquity 20”; Leiden, 1976] 211-216; Jewett trong “Chronology” 36-38… Và nếu đúng như thế, thì việc Thánh Phaolô tới Côrintô hẳn phải xẩy ra sau đó.

(3) Trận đói dưới triều Claudius (Cv 11:28b) khá khó định niên biểu. Dường như trận đói này ảnh hưởng tới trọn vùng phía đông Địa Trung Hải trong nhiều năm; một số chứng cớ cho thấy nó xẩy ra tại Giuđêa khoảng đầu thời T. Julius Alexander làm tổng trấn (46-48 CN; xem Josephus Ant. 20.5.2#101).

(4) Porcius Festus thay thế Felix làm tổng trấn Giuđêa (Cv 24:27). Ngày chính thức thay thế này khó có thể xác định được, nhưng nó có thể xẩy ra vào khoảng năm 60 CN. Khi Festus tới, Thánh Phaolô xin được Caesar xử xét (25:9-12).

(5) Việc triệu hồi Ponce Pilate về Rôma vào năm 36 để trả lời về tác phong của ông ta (xem Josephus, Ant 18.4.2). Việc triệu hồi này và việc Marcellus, viên tổng trấn mới, đến thay thế là dịp may hiếm có để người Do Thái ‘làm thịt’ Stêphanô (Cv 7:58-60) và khởi đầu cuộc bách hại giáo hội Giêrusalem (Cv 8:1). Cuộc trở lại của Thánh Phaolô có thể có liên hệ với các biến cố này.

3. Sự nghiệp của Thánh Phaolô

(1) Tuổi trẻ và việc trở lại

(A) Tuổi trẻ: Không ai rõ ngày sinh của Thánh Phaolô. Ngài gọi mình là một ‘ông già’ (presbytes) trong thư Philemôn 9, nghĩa là một người thuộc lớp tuổi từ 50 tới 59. Điều ấy có nghĩa: ngài sinh trong thập niên đầu của công nguyên. Thánh Luca thì lại gọi ngài là một “thanh niên (neanias)” có mặt tại cuộc ném đá Stêphanô nghĩa là vào khoảng giữa 24 và 40 tuổi.

Thánh Phaolô không cho ta hay ngài sinh tại đâu, nhưng tên Paulus cho thấy ngài phải sinh tại một thành phố La Mã. Ngài tự hào về nguồn gốc Do Thái của mình và cho hay mnìh thuộc chi tộc Benjamin (Rm 11:1; Pl 3:5; 2Cor 11:22). Ngài là “người Israel” (đã dẫn), “một người Hi-bá sinh từ người Hi-bá; giữ luật thì đúng là người Pharisêu” (Pl 3:6), một người “cực kỳ nhiệt thành với truyền thống cha ông” và vượt xa người cùng lứa tuổi “trong việc giữ đạo Do Thái” (Gl 1:14). Khi gọi mình là người Hi-bá (Hebraios) rất có thể ngài ngụ ý mình là người Do Thái nói tiếng Hy Lạp nhưng đồng thời cũng nói được cả tiếng Aram và đọc được Cưu Ước bằng nguyên ngữ. Tuy nhiên các thư của Thánh Phaolô cho thấy ngài rất thạo Hy Ngữ, có thể viết được ngôn ngữ đó và khi nói truyện với giáo hội Dân Ngoại, ngài có thể trích dẫn Cựu Ước bằng Hy Ngữ. Dấu vết văn phong Khắc Kỷ trong các thư của ngài cho thấy ngài có nền giáo dục Hy Lạp khá tốt.

Thánh Luca cũng trình bầy Thánh Phaolô là “người Do Thái”, “người Pharisêu” sinh tại Tarsus, một thành theo văn hóa Hy Lạp thuộc Cicilia (Cv 22:3,6; 21:39), có chị gái (23:16), và là công dân La Mã từ lúc mới sinh (22:25-29; 16:37; 23:27). Nếu tín liệu của Thánh Luca về nguồn gốc của Thánh Phaolô đúng, thì quả nó có ích trong việc giải thích cả hậu cảnh Do Thái lẫn hậu cảnh Hy Lạp của Thánh Phaolô. Tarsus lần đầu tiên được chứng thực là Tarzi trên cột Obelisk Đen của Shalmeneser vào thế kỷ thứ 9 trước CN. Qua thế kỷ thứ 4, Xenophon (Anab. 1.2.23) gọi nó là “thành phố vĩ đại và thịnh vượng” và một đồng tiền Hy Lạp từ thế kỷ thứ 5 và thứ 4 cho thấy đầu thời Hy Lạp Hóa của nó. Nó bị Hy Lạp Hóa nặng nề nhất bởi Antiochus IV Epiphanes (175-164), người cũng đã thiết lập ra một khu định cư người Do Thái tại đó vào khoảng năm 171 để khuếch trương việc thương mại và kỹ nghệ.

Trong cuộc tái tổ chức Tiểu Á của Pompey vào năm 66 trước CN, Tarsus trở thành thủ phủ của tỉnh Cilicia. Sau đó, Mark Antony ban cho thành này quyền tự do, miễn chuẩn (immunity) và quyền công dân. Các quyền này tiếp tục được Augustus củng cố và điều này giải thích các liên hệ của Thánh Phaolô với Rôma. Tarsus là trung tâm nổi tiếng về văn hóa, triết học và giáo dục. Strabo (Geogr. 14.673) cho rằng các trường học tại Tarsus vượt xa các trường ở Athens và Alexandria và học trò ở đây là người Cilicia chứ không phải người nước ngoài. Athenodorus Cananites, một triết gia Khắc Kỷ và là thầy dậy của hoàng đế Augustus, đã hưu trí tại đấy năm 15 trước CN và được giao nhiệm vụ tu chỉnh các diễn trình dân chủ và công dân của thành phố. Các triết gia khác, cả Khắc Kỷ lẫn Khoái Lạc (Epicurean), cũng định cư và giảng dạy tại đó. Những người La Mã nổi tiếng từng thăm viếng Tarsus là: Cicero, Julius Caesar, Augustus, Mark Antony và Cleopatra. Chính vì thế, Thánh Phaolô trong Công Vụ của Thánh Luca mới dám ‘khoe khoang’ mình là “công dân của một thành phố không thấp hèn” (21:39).

Công vụ cũng cho hay Thánh Phaolô hãnh diện đã “được dưỡng dục tại thành phố Giêrusalem này, dưới chân Gamaliel” (Cv 22:3), tức Gamaliel I, Trưởng Lão, mà thời cực thịnh ở Giêrusalem là vào khoảng các năm từ 20 tới 50 CN (xem W.C. van Unnik, Tarsus or Jerusalem: The City of Paul’s Youth, London 1962). Dù hình ảnh do Thánh Luca mô tả về Thánh Phaolô thời trẻ trung tại Giêrusalem giải thích được phần nào việc ngài được huấn luyện theo Do Thái và lối suy tư của ngài, nhưng chính Thánh Phaolô thì chưa bao giờ nhắc gần nhắc xa đến việc đó. Mặt khác việc ấy cũng có thể gây ra khó khăn: các trước tác của Thánh Phaolô không bao giờ hàm ý rằng ngài từng gặp gỡ hay có bất cứ sự quen thuộc có tính bản thân nào với Chúa Giêsu lúc Chúa công khai giảng đạo (xem 2Cor:5:16, 11:4 là đoạn không nên hiểu Thánh Nhân đã biết Chúa lúc ấy, dù một số nhà chú giải nghĩ ngược lại), nên nếu Thánh Phaolô lúc thiếu thời có sống tại Giêrusalem, thì làm sao Ngài lại không gặp gỡ Chúa Giêsu cho được? Dù lối biện bác và sử dụng Cựu Ước của Thánh Phaolô có tương tự với lối của những người Do Thái có học đương thời tại Palestine, thì người ta cũng chỉ có thể đoán chừng Ngài chịu ảnh hưởng của truyền thống rabbi chứ không chứng minh được điều đó. Rút cục, chứng cớ duy nhất cho thấy Thánh Phaolô được một nhân vật thuộc trường phái rabbi như Gamaliel huấn luyện chỉ thấy có trong Công Vụ.

Theo J. Jeremias (Zeitschrift fur die neutestamenliche Wissenschaft 25 [1926] 310-312; Zeitschrift fur die neutestamenliche Wissenschaft 28 [1929] 321-323), lúc trở lại, không những Thánh Phaolô là đệ tử của trường phái rabbi, mà còn là một rabbi được thừa nhận nghĩa là có quyền đưa ra các phán quyết về luật. Người ta cho rằng Ngài phải có quyền ấy nên mới thân chinh đi Đamát để bắt giữ các Kitô hữu (Cv 9:1-2; 22:4-5; 26:12) và bỏ phiếu với tư cách thành viên của thượng hội đồng để chống lại các Kitô hữu (26:10). Từ đó, Jeremias kết luận rằng vì tuổi để được phong làm rabbi là 40, nên Thánh Phaolô trở lại đạo lúc còn trung niên và đã có gia đình, vì hôn nhân là một đòi hỏi của chức rabbi. Jeremias cũng tổng hợp các dữ kiện của Công Vụ với các tư liệu của Thánh Phaolô để giải thích câu 1Cor 7:8 mà cho rằng Thánh Phaolô xếp mình vào loại ‘góa vợ’ chứ không hẳn ‘độc thân’. Theo ông, 1Cor 9:5 có nghĩa là Thánh Phaolô không tục huyền. Tuy nhiên, một số người như E. Fascher trong Zeitschrift fur die neutestamenliche Wissenschaft 28 (1929) 62-69 và G. Stahlin trong Theological Dictionary of the New Testament 9.452 n.109 tỏ ra hoài nghi những nhận định ấy.

(B) Trở lại: Trong thư Galát (1:16), Thánh Phaolô viết về khúc quanh quan trọng trong cuộc đời Ngài như sau: “Thiên Chúa đã vui lòng mạc khải Con của Người cho tôi để tôi rao giảng Người cho Dân Ngoại”. Cuộc mạc khải ấy xẩy ra sau một thời gian phục vụ Do Thái Giáo và bách hại “Giáo Hội của Thiên Chúa” (1:13; xem thêm Pl 3:6). Sau đó, Ngài qua “Arabia” rồi “trở về” Đamát (Gl 1:17). Sở dĩ dùng động từ “trở về” là vì cuộc trở lại của Ngài xẩy ra gần Đamát. Ba năm sau, Ngài thoát khỏi Đamát và lên Giêrusalem (1:18). Như thế, vào khoảng năm 36 CN, người cựu biệt phái tên Phaolô đã trở thành Kitô hữu và “tông đồ Dân Ngoại” (Rm 11:13).

Thánh Phaolô coi biến cố gần Đamát là khúc quanh trong đời Ngài và theo nghĩa đó quả là một “cuộc trở lại”. Đối với Ngài, đó là cuộc gặp gỡ với Chúa Phục Sinh, một cuộc gặp gỡ không bao giờ còn có thể quên được. Sau này, khi tư cách tông đồ của mình bị chất vấn, Ngài không ngần ngại ‘phản pháo’: “Tôi há không phải là một tông đồ sao? Tôi đã chẳng thấy Chúa Giêsu, Chúa chúng ta đó sao?” (1Cor 9:1; xem thêm 15:8). Do hiệu quả “cuộc mạc khải của Chúa Giêsu Kitô” (Gl 1:12), Ngài trở thành “đầy tớ của Chúa Kitô” (Gl 1:10), một người bị thúc bách (1Cor 9:16) phải rao giảng Phúc Âm Chúa Kitô và vì Phúc Âm ấy, mà trở nên “mọi sự cho mọi người” (1 Cor 9:22).

Thánh Luca cũng liên kết cuộc trở lại của Thánh Phaolô với việc bách hại Giáo Hội tại Giêrusalem. Vì cuộc bách hại này, mà các Kitô hữu (gốc Do Thái nói tiếng Hy Lạp) phải tản mác khắp Giuđêa và Samaria (Cv 8:1-3) và còn xa hơn nữa (9:2; 11:19). Thánh Luca tường thuật kinh nghiệm Đamát tới ba lần trong Công Vụ: lần đầu dưới hình thức trình thuật cho thấy Thánh Phaolô lưu lại Đamát ít ngày (9:3-19, nhưng không nhắc gì tới việc Ngài qua Arabia); hai lần sau dưới hình thức diễn văn, trước một đám đông ở Giêrusalem (22:6-16) và trước Festus và Vua Agrippa (26:12-18). Mỗi tường thuật ấy đều nhấn mạnh tới đặc điểm tràn ngập và bất ngờ của biến cố ngay giữa lúc Ngài đang ‘say sưa” bách hại các Kitô hữu. Tuy nhiên, điều lý thú là có nhiều khác nhau về chi tiết trong các tường thuật ấy: liệu đồng bạn của Thánh Phaolô đứng chết trân hay phủ phục dưới đất; liệu họ có nghe hay không lời từ trời phán xuống; dù Chúa Giêsu nói với Thánh Phaolô “bằng tiếng Hi-bá-lai”, nhưng Người lại trích dẫn một châm ngôn Hy Lạp (26:14). Việc thiếu phối hợp giữa các chi tiết này cho thấy Thánh Luca không quan tâm bao nhiêu tới sự nhất quán. Tuy nhiên, trong mỗi tường thuật ấy, sứ điệp chủ yếu đều đã được chuyền đạt cho Phaolô: “Saolô, Saolô, sao ngươi bách hại Ta?” – “Thưa Ngài, Ngài là ai?” – “Ta là Giêsu Nadarét, người mà ngươi đang bách hại”.

(2) Thánh Phaolô viếng Giêrusalem

Theo các thư của Thánh Phaolô, Ngài viếng Giêrusalem hai lần sau khi trở lại, một lần sau đó ba năm (Gl 1:18) và “một lần trong 14 năm” (Gl 2:1). Trong thư Rôma 15:25, Ngài dự tính một cuộc thăm viếng khác trước khi tới Rôma và Tây Ban Nha.

Tuy nhiên, theo sách Công Vụ, sau khi trở lại, Thánh Phaolô viếng Giêrusalem 5 hay 6 lần tất cả:

(a) Đoạn 9:26-29, sau khi Ngài thoát khỏi Đamát; xem thêm 22:17;

(b) Đoạn 11:29-30, Banaba và Saolô mang tiền quyên góp từ Antiốc tới cho anh chị em Giuđêa, được Thánh Luca liên hệ với trận đói thời Claudius;

(c) Câu 12:25, Banaba cùng Saolô lên Giêrusalem (lần nữa? Nhiều bản chép tay ghi là “rời” Giêrusalem, nghĩa là bỏ Giêrusalem trở về Antiốc sau cuộc viếng thăm ở (b); tuy nhiên eis có nghĩa đến nhiều hơn là đi);

(d) Đoạn 15:1-2, Phaolô và Banaba đi dự “Công Đồng”;

(e) Câu 18:22, sau Hành Trình Truyền Giáo II, Thánh Phaolô lên Giêrusalem để chào mừng Giáo Hội trước khi trở về Antiốc;

(f) Đoạn 21:15-17, cuộc thăm viếng vào cuối Hành Trình Truyền Giáo III, lúc Thánh Phaolô bị bắt.

Kết hợp các dữ kiện của Thánh Phaolô và của Thánh Luca liên quan tới các cuộc thăm viếng Giêrusalem của Ngài là một nhiệm vụ khó khăn nhất trong việc dựng lại cuộc đời Thánh Nhân. Giải pháp tốt nhất là coi cuộc viếng thăm (a) trong Luca là một với cuộc viếng thăm ở Gl 1:18, và coi các cuộc viếng thăm (b), (c) và (d) trong Luca chỉ là nói về cùng một biến cố đó là “Công Đồng”, tương đương với 1Gl 2:1-10. Thánh Luca chắc chắn đã lịch sử hóa và đã từ một cuộc viếng thăm ‘tạo ra’ nhiều cuộc viếng thăm khác nhau vì do những nguồn cung cấp dữ kiện khác nhau mà thôi. Cuộc viếng thăm (e) trong Luca không có vấn đề gì cả, còn cuộc viếng thăm (f) chính là cuộc viếng thăm được Thánh Phaolô dự tính trong Rm 15:25.

Như thế, sau khi thoát khỏi Đamát năm 39, Thánh Phaolô tới Giêrusalem lần đầu tiên (Gl 1:18). Lý do cuộc viếng thăm này thì có sự tranh cãi. “Để lấy tin tức từ Kê-pha” hay “để thăm viếng Kê-pha”. Trong 15 ngày ở đó, Ngài chỉ gặp Gia-cô-bê “người anh em của Chúa”, chứ không gặp một tông đồ nào khác; Ngài thực sự vô danh đối với giáo hội Giu-đêa. Theo Thánh Luca, chính trong lần thăm Giêrusalem lần đầu này, Banaba giới thiệu Thánh Phaolô cho các “tông đồ” khác và nói với các vị này rằng Ngài đã rao giảng danh Chúa Giêsu cách can đảm ra sao tại Đamát. Thánh Phaolô cùng các tông đồ đi lại tại Giêrusalem, tiếp tục rao giảng một cách can đảm và tranh luận với người nói tiếng Hy Lạp đến độ họ tìm cách giết Ngài (Cv 9:27-29).

Theo thư Galát 1:21, sau 15 ngày lưu lại Giêrusalem, Thánh Phaolô lui về Syria và Cilicia, ở đó bao lâu thì không thấy nói. Có lẽ vào khoảng thời gian này, Ngài được thị kiến điều thư Côrintô thứ 2 (12:2-4) mô tả; thị kiến này xẩy ra 14 năm trước khi thư Côrintô thứ 2 được viết ra nhưng khó có thể đồng hóa nó với biến cố trở lại. Theo Công Vụ 22:17-21, trong lần thăm (a), Thánh Phaolô ngất trí khi đang cầu nguyện trong Đền Thờ Giêrusalem. Chính mối đe doạ từ người nói tiếng Hy Lạp, mà anh em đồng đạo đã đưa Thánh Phaolô từ Giêrusalem qua Caesarea và tiễn Ngài trở về Tarsus (Cv 9:30). Tông Đồ Công Vụ không cho biết Ngài lưu lại Tarsus bao lâu, nhưng thứ tự các biến cố cho thấy có thể là các năm 40-44 CN. Dù sao, cuộc lưu lại Tarsus chấm dứt khi Banaba tới thăm, sau đó đã đưa Ngài trở lại Antiốc, nơi Ngài lưu lại một năm (11:25-26), chuyên chăm rao giảng phúc âm.

(3) Các Hành Trình Truyền Giáo

Như đã nói trên đây, sách Công Vụ gom hoạt động truyền giáo của Thánh Phaolô thành ba nhóm; nhưng có tác giả, như Knox, cho rằng: nếu bạn chặn Thánh Phaolô dọc đường mà hỏi xem Ngài đang làm cuộc hành trình truyền giáo thứ mấy, thì đến Ngài cũng phải ‘ngẩn tò te’ không biết phải trả lời ra sao. Nhưng lỗi không hẳn của một mình Thánh Luca, mà cũng do cả lối ta đọc Công Vụ nữa vì Thánh Luca không phân biệt rõ Hành Trình I, II, và III như kiểu của chúng ta ngày nay. Ấy thế nhưng, như ta đã thấy, vẫn có một tương đồng nào đó giữa các dữ kiện của Thánh Phaolô và của Thánh Luca liên quan đến hành trình truyền giáo, ngoại trừ hành trình đầu. Các hành trình này diễn ra trong khoảng các năm 46 tới 58, đó là những năm hoạt động nhất trong đời Ngài, những năm Ngài rao giảng Phúc Âm tại Tiểu Á và Hy Lạp.

(A) Hành Trình I (năm 46-49 CN): Chỉ có sách Công Vụ (13:3-14:28) thuật lại hành trình tiền “Công Đồng” này và cho thấy những nét chủ yếu phù hợp với thể văn của Thánh Luca. Thánh Phaolô không cung cấp cho ta chi tiết nào về hoạt động truyền giáo của Ngài trong suốt thời gian 14 năm trước khi có “Công Đồng” (Gl 2:1). Có lúc, Ngài ở “các miền Syria và Cilicia” (1:21) và “rao giảng đức tin” (1:23) “giữa Dân Ngoại” (2:2). Sau này khi viết thư Philiphê, Ngài nhắc lại rằng “lúc đầu mới rao giảng Phúc Âm, không giáo hội nào ngoài anh em chị em đã chia sẻ với tôi trong vấn đề cho và nhận, lúc tôi rời Macedonia” (4:15). Như thế, khi Ngài rời Macedonia (khoảng năm 50 CN), đã có nhiều giáo hội khác do Thánh Phaolô phúc âm hóa. Các giáo hội này ở đâu? Vì từ Tiểu Á, Ngài qua Philippi thuộc Macedonia, nên có thể Ngài muốn ám chỉ giáo hội tại Nam Galatia trong trình thuật hành trình truyền giáo I (Cv 13:13-14:25) chứ không hẳn các giáo hội tại Nam Galatia, Mysia hay Troas vốn thuộc hành trình truyền giáo II. Dù sao, Macedonia vẫn là khu vực đầu tiên được Thánh Phaolô phúc âm hóa và trình thuật Hành Trình I trong Công Vụ không mâu thuẫn với các chi tiết hiếm hoi của Thánh Phaolô.

Được Chúa Thánh Thần đánh động, các tiên tri và bậc thầy của Antiốc đã đặt tay trên Banaba và Phaolô và sai họ lên đường cùng với Gioan Máccô, người anh em họ của Banaba (Cl 4:10). Họ rời Seleucia, hải cảng của Antiốc thuộc Syria, mà qua Cyprus, lưu lại đảo Salamis một thời gian rồi vào Paphos. Tại đấy, thống đốc Sergius Paulus trở lại đạo (13:7-12). Từ Paphos, các nhà truyền giáo trẩy đi Perga thuộc Pamphylia (trên bờ biển nam của miền trung Tiểu Á) tại đấy Gioan Máccô bỏ đoàn mà trở về Giêrusalem. Hai ông Banaba và Phaolô tiếp tục cuộc hành trình tới các thị trấn thuộc Nam Galatia: Antiốc thuộc Pisidia, Iconium, Lystra, và Derbe. Tại Antiốc, Thánh Phaolô đầu tiên rao giảng cho người Do Thái trong các hội đường của họ và khi gặp chống đối, Ngài tuyên bố Ngài sẽ quay qua Dân Ngoại (13:46). Sau khi giảng phúc âm cho vùng này và gặp nhiều chống đối khác nhau của người Do Thái (đôi khi còn bị liệng đá như ở Iconium), Thánh Phaolô cùng Banaba tìm đường rời Derbe, băng qua Lystra, Iconium và Antiốc Pisidia mà trở lại Perga rồi từ đó, suôi buồm từ Attalia mà tới Antiốc thuộc Syria, nơi Ngài lưu lại “không ít thời gian” với các Kitô hữu (14:28). Một trong các vấn đề xuất hiện trong Hành trình Truyền Giáo I này là mối liên hệ giữa niềm tin mới và Do Thái Giáo, cụ thể hơn, giữa các Kitô hữu gốc Ngoại giáo và các Kitô hữu gốc Do Thái giáo. Các tân tòng gốc Ngoại Giáo có buộc phải cắt bì và tuân giữ luật Môsen hay không.

(B) Dự “Công Đồng” (năm 49 CN): Theo Thánh Luca, lúc Thánh Phaolô lưu lại Antiốc (cuối Hành Trình I), các tân tòng từ Giuđêa tới và bắt đầu nhấn mạnh tới việc phải cắt bì mới được cứu rỗi (15:1-3). Vì việc này dẫn tới cuộc tranh luận giữa họ và Thánh Phaolô cũng như Banaba, nên giáo hội Antiốc cử hai vị cùng một số người khác tới Giêrusalem để thỉnh ý các tông đồ và trưởng lão về vị thế của các tân tòng gốc Dân Ngoại. Việc ấy đưa tới việc mệnh danh là Công Đồng Giêrusalem.

Trong thư Galát 2:1-10, Thánh Phaolô có kể lại biến cố này; Ngài cùng Banaba và Titô lên Giêrusalem “một lần nữa trong 14 năm” (tính từ ngày Ngài trở lại tức là năm 49-50). Ngài nhắc đến cuộc thăm viếng này như là kết quả một ‘mạc khải” (2:2), và Ngài trình bầy với “các vị có tiếng tăm” tại Giêrusalem phúc âm được Ngài đã và đang rao giảng cho Dân Ngoại. Các vị ấy “không thêm bớt gì” vào phúc âm ấy. Các tông đồ Gia-cô-bê, Kê-pha và Gioan hiểu ra ơn thánh đã được phú ban cho Phaolô và Banaba và dơ vòng tay thân ái ra chào đón họ, chứng tỏ không còn bị ảnh hưởng chi bởi những “anh em giả mạo” từng lẻn vào do thám việc các Ngài được thoát khỏi lề luật, một giải thoát do chính Chúa Giêsu chiếm lãnh cho và được Thánh Phaolô nhất định không khoan nhượng bảo vệ “để chân lý phúc âm được bảo toàn” (2:4-5). Vấn đề được “Công Đồng” giải quyết dứt điểm chính là việc cắt bì: nó không phải là điều bắt buộc để được cứu rỗi; nên Titô, dù là người Hy Lạp, đã không bắt buộc phải chịu cắt bì.

Phần thứ nhất của Công Vụ 15 (các câu 4-12) cũng bàn tới vấn đề tín lý này. Những người bị Thánh Phaolô gọi là “anh em giả mạo” thì ở đây bị nhận diện là “một số tín hữu xuất thân từ phái Pharisêu” (15:5). Khi vấn đề được các tông đồ và trưởng lão tranh luận, thì lời nói của Thánh Phêrô xem ra thắng thế; và cuộc họp chấp nhận quyết định của Ngài (dựa trên chính cảm nghiệm của Ngài trong Công Vụ 10:1-11:18). Như thế, Công Đồng Giêrusalem đã giải thoát Giáo Hội phôi thai khỏi gốc rễ Do Thái và mở ra cho Giáo Hội một chân trời hoạt động tông đồ mới trên toàn thế giới mà lúc ấy Giáo Hội đang phải đương đầu. Quan điểm của Thánh Phaolô đã được minh chứng.

(C) Biến cố tại Antiốc (Năm 49): Sau “Công Đồng” Giêrusalem, Thánh Phaolô tới Antiốc, và sau đó, Thánh Phêrô cũng tới. Thoạt đầu, cả hai vị đều ăn uống với các Kitô hữu gốc Dân Ngoại, nhưng sau đó không lâu “một số người của Gia-cô-bê” (Gl 2:12) nghĩa là các Kitô hữu có khuynh hướng học theo Do Thái giáo rõ rệt, cũng tới và chỉ trích Thánh Phêrô về việc ăn uống với các tân tòng gốc Dân Ngoại. Nhượng bộ trước việc chỉ trích này, Thánh Phêrô đã tách rời khỏi các Kitô hữu gốc Dân Ngoại; và hành động ấy khiến nhiều Kitô hữu khác, kể cả Banaba, cũng bắt chước theo. Thánh Phaolô phản đối và chỉ trích Thánh Phêrô ngay trước mặt, vì vị thánh này đã “không bước chân theo chân lý phúc âm” (2:11). Xem ra lời chỉ trích của Thánh Phaolô có hiệu quả, nhưng dù thế, vấn đề kỷ luật liên quan đến các luật lệ Do Thái về ăn uống áp dụng cho các tân tòng gốc Ngoại Giáo nay đã được chính thức đặt ra (xem Brown và Meir, Antioch and Rome, 28-44).

(D) Sắc Lệnh Giêrusalem về Các Vấn Đề Ăn Uống: Việc Thánh Phaolô phản đối Thánh Phêrô vẫn không giải quyết được vấn đề ăn uống tại Antiốc. Dường như một số phái viên lại được gửi tới Giêrusalem, có lẽ sau khi hai Thánh Phêrô và Phaolô đã rời Antiốc. Thánh Gia-cô-bê lại triệu tập các tông đồ và trưởng lão và quyết định của các ngài dưới hình thức một bức thư được gửi cho các giáo hội địa phương ở Antiốc, Syria và Cilicia (Cv 15:13-19). Thánh Phaolô không đề cập gì tới quyết định này, và cả trong Công Vụ, Ngài cũng chỉ được Thánh Giacôbê thông báo khi thánh nhân tới Giêrusalem sau Hành Trình III (21:25).

Công Vụ 15 là chương gây vấn đề và có tính gom nhặt (composite), trong đó, hiển nhiên Thánh Luca đã thu gọn hai biến cố khác biệt nhau cả về chủ đề lẫn thời gian. Ta cần ghi nhận: (a) Các câu 1-2 là một chắp vá văn chương nối các tín liệu từ các nguồn khác nhau; (b) Câu 34 không có trong nhiều bản chép tay Hy Lạp, nhưng được thêm vào các bản văn truyền thống của Phương Tây để giải thích việc Silas ở đâu lúc khởi đầu Hành Trình II (nếu bỏ câu 34, chỗ Silas ở trở thành một vấn đề: ông tham gia với Thánh Phaolô lúc nào trong Hành Trình II?); (c) Simeon (15:14), người thường được coi là chính Simon Phêrô (và chắc chắn phải hiểu như thế trong câu truyện thu gọn của Thánh Luca), có lẽ là một nhân vật khác trong nguồn được dùng. Ở chỗ khác trong Công Vụ, Thánh Phêrô được gọi là Petros (15:7) hay Simon Petros (10:5; 18:32) chứ không bao giờ lại là Simeon. Trong nguồn của Thánh Luca, ông Simeon của câu 15:14 rất có thể là Simeon Đen (Simeon Niger), một trong các tiên tri hay thầy dạy tại Antiốc (13:1); có lẽ ông là một trong các phái viên được gửi tới cuộc họp do Thánh Giacôbê triệu tập về luật lệ ăn uống. (d) Bài diễn văn của Thánh Phêrô về cắt bì và Luật Môsen (15:7-11) khó mà ăn có với chủ đề thảo luận của Thánh Giacôbê (15:14-21).

Sau cuộc tham luận trên, Thánh Giacôbê gửi một lá thư cho Antiốc, Syria và Cilicia (15:22-29) để khuyến cáo rằng các Kitô hữu gốc Dân Ngoại tại các cộng đoàn hỗn hợp ấy phải kiêng không dùng thịt đã hiến tế cho các ngẫu thần, không dùng máu, không dùng thịt các con vật bị cắt tiết và không lấy nhau cách bất hợp pháp (illicit marriages). Có lẽ thư này đã được gửi tới Antiốc cùng với Judas Barsabbas và Silas (15:22) và gửi cho Thánh Phaolô và Banaba lúc đó giả thiết vẫn còn ở đó. Công Vụ 15: 35-36 có nhắc tới việc Thánh Phaolô và Banaba rao giảng tại Antiốc; nhưng nên hiểu việc này là thòi điểm Thánh Phaolô lưu lại Antiốc ngay sau khi tham dự “Công Đồng”. Sau đó, có lẽ Ngài đã rời Antiốc để bắt đầu Hành Trình II. Thánh Phaolô chỉ biết thư này mãi về sau (21:25).

(E) Hành Trình II (Các năm 50-52 CN): Theo Công Vụ 15:37-39, Thánh Phaolô từ khước không mang Gioan Máccô đi theo Hành Trình II vì trước đây vị này đã bỏ cuộc. Thay vào đó, Silas đã tháp tùng Thánh Phaolô. Khởi hành từ Antiốc, họ băng qua Syria và Cilicia mà vào các thị trấn của Nam Galatia, Derbe và Lystra (nơi Thánh Phaolô chọn Timôtê làm người đồng hành sau khi đã cắt bì cho ông Cv 16:1-3!). Từ đó, Ngài băng qua Phrygia mà vào Bắc Galatia (Pessinus, Ancyra và Tavium) và đã lập nhiều giáo hội mới. Bị ngăn trở không tới Bithynia, Ngài tiếp tục đi từ Galatia tới Mysia và Troas. Tại đây, dường như Ngài được Thánh Luca nhập đoàn, hay ít nhất các dữ kiện trong nhật ký của Thánh Luca đã bắt đầu ở điểm này (Cv 16:10-17, phần đầu trong “các Phần Chúng Tôi”).

Đáp ứng một thị kiến trong mộng, Thánh Phaolô qua Neapolis, hải cảng Philippi. Chính hải cảng này đã trở thành địa điểm cho giáo hội Kitô giáo đầu tiên của Âu Châu. Sau khi bị cầm tù và bị đánh đòn tại Philippi vì đã trừ qủy cho một nữ nô lệ, người từng mang lợi lớn lại cho chủ, Ngài lên đường qua Thessalonica qua ngả Amphipolis và Apollonia (Cv 17:1-9). Trong thời gian ngắn ngủi lưu lại Thessalonica, Ngài bận bịu lo rao giảng phúc âm và bị người Do Thái gây rắc rối, đến phải bỏ đó mà qua Beroea (17:10) và cuốicùng tới Athens (17:15). Tại đây, Thánh Phaolô cố gắng gây chú ý nơi người dân thành phố đối với phúc âm Chúa Kitô, vì họ vốn là những người thích các ý tưởng mới lạ (17:22-31). Nhưng Ngài không thành công. Họ bảo Ngài: “Để khi khác, chúng tôi sẽ nghe ông nói về vấn đề ấy” (17:32). Chán nản, Thánh Phaolô bỏ đó mà qua Côrintô (năm 51), lúc đó là một trong những thành phố quan trọng bậc nhất của thế giới Địa Trung Hải. Tại đây, Ngài cư ngụ với Aquila và Priscilla (18:2-3), hai Kitô hữu gốc Do Thái mới từ Ý qua tới và cũng làm nghề dệt lều như Thánh Phaolô. Trong thời gian 18 tháng lưu lại Côrintô, Ngài làm nhiều người Do Thái và Hy Lạp và lập ra một giáo hội rất sinh động chủ yếu gồm các Kitô hữu gốc Dân Ngoại. Năm 51 CN, Thánh Phaolô viết thư thứ nhất gửi tín hữu Thessalonica. Gần cuối thời gian ở đấy (năm 52 CN), Thánh Phaolô bị điệu tới trước tổng trấn L. Junius Gallio, nhưng ông này từ chối không xử vì coi đây là chuyện riêng của người Do Thái (18:15). Sau đó ít lâu, Thánh Phaolô rời Côrintô, đáp tầu từ Cenchreae qua Êphêsô và Caesarea Maritima. Sau khi thăm giáo hội Giêrusalem (18:22), Ngài tới Antiốc, và ở lại đó chừng hơn một năm, rất có thể từ cuối thu năm 52 tới xuân năm 54.

(F) Hành Trình III (các năm 54-58 CN): Rời Antiốc (Cv 18:23), Thánh Phaolô qua miền Bắc Galatia, Phrygia và Êphêsô. Thủ phủ tỉnh Asia này trở thành trung tâm hoạt động truyền giáo của Ngài trong ba năm sau đó (Cv 20:31), và trong “hai năm” Ngài thuyết giảng trong hội trường của Tyrannus (19:10). Chỉ ít lâu sau khi tới Êphêsô, Thánh Phaolô viết thư gửi tín hữu Galát (khoảng năm 54 CN). Trong thời gian này, Ngài cũng đã viết thư gửi tín hữu Philiphê và có lẽ cả thư gửi Philêmôn nữa (khoảng các năm 56-57).

Trong thời gian này, Thánh Phaolô được báo cáo về tình hình của giáo hội Côrintô: nào là hoài nghi, phe nhóm, nào là gương mù gương xấu và oán giận chính Thánh Phaolô. Để đương đầu với tình thế ấy, Ngài viết ít nhất năm lá thư cho giáo hội Côrintô, trong đó, chỉ có hai lá còn được lưu giữ (có người cho: một trong hai thư đó thực sự là một thư chắp nối). Một thư được viết trước thư 1Cor (xem 1Cor 5:9) để cảnh giác tín hữu Côrintô đừng giao du với các Kitô hữu vô luân. Rồi, để bình luận về các báo cáo và cũng để giải đáp các câu hỏi đã gửi tới, Ngài viết thư thứ nhất gửi tín hữu Côrintô, chỉ sau Lễ Ngũ Tuần ít lâu (có lẽ năm 57). Tuy nhiên, lá thư này không được tiếp nhận nồng hậu và liên hệ của Ngài với giáo hội đang bị xâu xé vì nạn bè phái này ngày một tệ đi hơn. Tình thế ấy đòi Ngài phải vội vã tới Côrintô một lần nữa (2Cor 12:14; 13:1-2; 2:1 [“một cuộc thăm viếng đau lòng”]; 12:21), một cuộc thăm viếng thực tế đã không thực hiện được việc gì. Trở lại Êphêsô, Thánh Phaolô lại viết một thư thứ ba cho tín hữu Côrintô, một thư Ngài soạn “trong nước mắt” (2Cor 2:3-4, 9; 7:8,12; 10:1,9). Bức thư này có thể đã được Titô mang theo khi tới Côrintô để đích thân lập lại hòa khí.

Có lẽ trong khi Titô vắng mặt, cuộc bạo động của thợ bạc Êphêsô đã nổ ra (Cv 19:23-20:1). Bài giảng của Thánh Phaolô về “đường lối” mới của Kitô giáo đã làm Demetrius tức giận. Vốn chế tạo các tượng đền tí hon của thần Artemis bán kiếm lời, hắn thấy bài giảng đó có nguy cơ phá hoại việc buôn bán của hắn, nên hắn đã cùng các thợ bạc khác tràn vào nhà hát phản đối Thánh Phaolô và việc khuếch trương Kitô giáo.

Biến cố trên khiến Thánh Phaolô phải rời Êphêsô mà qua Troas (2Cor 2:12). Không thấy Titô ở đấy, Ngài quyết định đi Macedonia (2Cor 2:13). Đâu đó tại Macedonia (có lẽ tại Philippi), Thánh Phaolô gặp lại Titô và được biết liên hệ của Ngài với tín hữu Côrintô đã tốt đẹp trở lại. Từ Macedonia, Ngài viết cho họ bức thư thứ tư vào mùa thu năm 57 (được Murphy-O’Connor O.P. gọi là thư A trong thư thứ hai Côrintô). Không thể nói chắc liệu Thánh Phaolô có tức khắc qua Côrintô hay từ Macedonia qua Illyricum trước (xem Rm 15:19) rồi từ đó Ngài viết 2 Cor 10-13 (gọi là thư B). Cuối cùng, Thánh Phaolô tới Côrintô, và đây là lần viếng thăm thứ ba của Ngài, có lẽ vào mùa đông năm 57 và lưu lại Achaia 3 tháng (Cv 20:2-3; xem 1Cor 16:5-6; 2Cor 1:16).

Tới lúc này, Thánh Phaolô đang nghĩ đến việc trở lại Giêrusalem. Nhớ lại khuyến cáo của “Công Đồng” phải nhớ tới người nghèo (Gl 2:10), nên Ngài lo liệu để các giáo hội gốc Dân Ngoại của mình quyên góp cho anh em tín hữu nghèo tại Giêrusalem. Cuộc lạc quyên này diễn ra trong các giáo hội Galatia, Macedonia và Achaia (1Cor 16:1; Rm 15:25-26). Thánh Phaolô dự tính sẽ đem của lạc quyên tới Giêrusalem và như thế sẽ chấm dứt việc rao giảng phúc âm của ngài tại miền đông Địa Trung Hải. Ngài muốn thăm Rôma (Rm 15:22-24) và từ đó qua Tây Ban Nha và Phương Tây. Trong ba tháng lưu lại Achaia, Thánh Phaolô viết lá thư gửi tín hữu Rôma (có lẽ viết tại Côrintô, hay tại hải cảng Cenchreae của thành phố này [Rm 16:1]) vào đầu năm 58. Xin xem thêm Brown và Meir, Antioch and Rome 105-127.

Khi xuân sang, Thánh Phaolô quyết định đáp tầu từ Côrintô (Cv 20:3) đi Syria. Nhưng khi sắp xuống tầu, thì vì âm mưu hãm hại của người Do Thái, Ngài phải đổi lộ trình, đi đường bộ băng qua Macedonia. Các môn đệ từ Beroea, Thessalonica, Derbe và Êphêsô tháp tùng Ngài. Họ qua Lễ Vượt Qua năm 58 ở Philippi (nơi Thánh Luca nhập bọn với họ, Cv 20:5, “Phần chúng tôi”). Sau lễ, họ đáp tầu qua Troas và đi đường bộ tới Assos, nơi họ lại đáp tầu đi Mitylene. theo duyên hải Tiểu Á, Thánh Phaolô đáp tầu từ Chios tới Samos, rồi Miletus, nơi Ngài nói truyện với các trưởng thượng Êphêsô đang họp nhau ở đấy (Cv 20:17-35). Không chùn bước khi nghe họ tiên đoán mình sẽ bị bắt, Ngài vẫn đáp tầu trẩy đi Cos, Rhodes, Patara thuộc Lycia, Tyre thuộc Phoenicia, Ptolemais, và Caesarea Maritima. Một cuộc hành trình đường bộ đưa Ngài tới Giêrusalem, nơi Ngài hy vọng tới đúng vào dịp Lễ Ngũ Tuần (20:16; 21:17). Xem Ogg, Chronology 133-145.

(4) Lần bị giam cuối cùng

Từ đây trở đi, ta chỉ còn biết dựa vào Công Vụ của Thánh Luca để biết ít nhiều về quãng đời còn lại của Thánh Phaolô; giai đoạn này kéo dài mấy năm sau năm 58, trong đó Ngài chịu cầm tù thời gian lâu.

(A) Thăm Giêrusalem lần cuối và bị bắt (năm 58): Tới Giêrusalem, Thánh Phaolô cùng những người đồng hành tới thăm Thánh Giacôbê và các trưởng thượng của giáo hội Giêrusalem (Cv 21:18). Thánh Giacôbê lập tức hiểu ngay sự hiện diện của Thánh Phaolô tại Giêrusalem sẽ gây bất ổn nơi các Kitô hữu gốc Do Thái. Nên Ngài khuyên Thánh Phaolô hãy cùng bốn người sở tại chịu làm nghi lễ Nazirite và chịu phí tổn cho họ như một nghĩa cử thiện chí đối với các Kitô hữu gốc Do Thái, để họ khỏi nghi ngờ. Thánh Phaolô đồng ý. Và nghi lễ kéo dài bẩy ngày trên sắp sửa kết thúc, thì người Do Thái từ tỉnh Asia nhận ra Thánh Phaolô ở khu vực Đền Thờ. Họ tố cáo Ngài khuyến khích người ta vi phạm Luật Môsen và làm hoen ố Đền Thờ bằng cách đưa người Hy Lạp vào đó. Họ túm lấy Ngài, lôi ra khỏi Đền Thờ và toan tính giết chết Ngài. Tuy nhiên, Ngài được cơ đội La Mã trú đóng tại Đồn Antonia cứu thoát khỏi đám đông. Họ giam giữ Ngài (22:27) và điệu Ngài ra trước đại hội đồng Do Thái. Nhưng rồi sau đó, vì sợ người Do Thái, nên viên chỉ huy cơ đội đã hộ tống Thánh Phaolô tới cho viên tổng trấn La Mã tại Giuđêa là Antonius Felix, đang ngụ tại Caesarea Maritima, xét xử (23:23-33). Hy vọng Thánh Phaolô sẽ đút lót (24:26), nên Felix giam Ngài tới hai năm.

(B) Chống án lên Caesar; tới Rôma (năm 60 CN): Lúc tổng trấn mới là Porcius Festus

tới nhậm chức (có lẽ vào khoảng năm 60 CN), Thánh Phaolô “kháng án lên Caesar” nghĩa là đòi được xử tại Rôma, vì Ngài vốn là công dân La Mã. Festus buộc phải chấp thuận. Xem Sherwin-White, Roman Society 48-70.

Được một bách quân đội trưởng hộ tống (và có lẽ cả Thánh Luca nữa, theo “Phần chúng tôi” cho thấy), Ngài đáp tầu từ Caesarea Maritima đi Sidon và băng qua Cyprus mà vào Myra thuộc Lycia. Cuối mùa thu năm 60 (27:9), đoàn người rời Myra trên một con tầu của Alexandria nhằm Ý mà tới, mặc dù thời tiết xấu. Hải trình trước nhất đưa họ tới Cnidus (trên duyên hải phía nam Tiểu Á) rồi theo hướng nam “vì không thuận gió, phải vòng theo đảo Crete, hướng về mũi Salmone” đến tận Bến Lành (Fair Haven), gần thành Lasea của Đảo Crete (27:7-8). Khi họ cố tới cảng Phoenix, một cơn gió đông bắc ập tới làm tầu bị cuốn ra xa, trôi dạt giữa biển Adriatic và cuối cùng dạt vào đảo Malta, sau khi bị đắm tầu (28:1).

Sau khi qua mùa đông tại Malta, đoàn người đáp tầu đi Syracuse thuộc Sicily, rồi đi Rhegium (nay là Reggio di Calabria) và cuối cùng tới Puteoli (nay là Pozzuoli, gần Naples). Cuộc hành trình bằng đường bộ tới Rôma sau đó đưa họ qua Apii Forum và Tres Tabernae (28:5). Thánh Phaolô tới thủ đô đế quốc vào mùa xuân năm 61 và bị quản thức tại gia trong hai năm (61-63), có lính canh giữ. Tuy nhiên, hoàn cảnh ấy không cản trở việc Ngài mời người Do Thái ở Rôma tới nơi Ngài bị quản thúc để giảng phúc âm cho họ (28:17-28). Truyền thống vẫn cho rằng trong thời gian bị quản thúc này, Thánh Phaolô viết các thư Philêmôn, Côlôxê và Êphêsô. Tuy nhiên nhiều người không nghĩ vậy (xem Sherwin-White, Roman Society 108-119; R.E. Brown, The Churches The Apostles Left Behind [NY, 1984] 47-60).

(C) Cuối đời Thánh Phaolô: Công Vụ chấm dứt với trình thuật ngắn về vụ Thánh Phaolô bị quản thúc. Việc Ngài tới Rôma và rao giảng phúc âm gần như tự do ở đó đã tạo nên cao điểm câu truyện truyền bá lời Chúa từ Giêrusalem tới thủ đô thế giới văn minh hồi đó: Rôma vốn là biểu tượng của cõi “tận cùng trái đất” (Cv 1:8). Nhưng đó chưa hẳn là kết thúc cuộc đời Thánh Phaolô. Nhắc tới “hai năm tròn” (28:30) không có nghĩa là Ngài qua đời ngay sau đó, dù người ta muốn giải thích ra sao tùy ý về sự kết thúc đột ngột của sách Công Vụ.

Các Thư Mục Vụ (Titô; 1-2 Timôtê) thường được coi là các trước tác chính hiệu của Thánh Phaolô và được cho là Ngài đã viết ra sau thơờ gian bị quản thúc tại Rôma. Thực thế, các thư này gợi ý cho thấy Ngài trở lại Phương Đông một lần nữa (Êphêsô, Macedonia, và Hy Lạp). Theo các thư này, Thánh Phaolô lập Titô đứng đầu giáo hội Crete và lập Timôtê đứng đầu giáo hội Êphêsô. Thư thứ hai gửi Timôtê vốn được coi là chúc thư và ước thư cuối cùng của Thánh Phaolô, được Ngài soạn thảo lúc gần qua đời. Nó gợi ý cho thấy Ngài rất có thể đã bị bắt ở Troas (4:13) và bị điệu về Rôma trở lại (1:17), nơi Ngài viết lá thư này khi đang ngồi tù. Có điều, ngày nay các thư này bị coi là ngụy thư (pseudepigraphical), có lẽ do một môn đệ của Thánh Phaolô viết ra (xem Brown, Churches 31-46).

Về các chi tiết khác liên quan đến những ngày sau cùng của Thánh Phaolô, ta phải nhờ vào các truyền thống sau này trong Giáo Hội, những truyền thống chịu ảnh hưởng nặng nề từ các nguồn dã sử. Thánh Phaolô có bao giờ tới Tây Ban Nha hay không? Ở đây, nếu có, thì hình như chỉ là một lịch sử hóa điều Ngài ước mơ trong Rm 15:24, 28. Quả có những truyền thuyết cho rằng sau khi bị quản thúc hai năm, Thánh Phaolô có qua Tây Ban Nha. Thánh Clêmentê thành Rôma (I Cor. 5:7) nói rằng Thánh Phaolô “dạy sự công chính cho toàn thể thế giới và đã du hành tới tận cùng phương tây. Và sau khi đã làm nhân chứng trước mặt các nhà cầm quyền, Ngài đã được đưa ra khỏi thế gian mà về nơi cực thánh, sau khi chứng tỏ mình là gương mẫu vĩ đại nhất của lòng kiên vững”. Lời chứng của Thánh Clêmentê (khoảng năm 90) gợi ý Thánh Phaolô có tới Tây Ban Nha, bị xử lần nữa và được phúc tử đạo. Khoảng năm 180, Mảnh Văn Muratorian (dòng 38-39; Enchiridion Biblicum [2nd ed., Naples, 1954] 4) hàm ý cho rằng phần cuối cùng của sách Công Vụ, tức phần kể lại “việc Thánh Phaolô rời bỏ Kinh Thành [Rôma] và lên đường qua Tây Ban Nha” đã bị thất lạc.

Eusebius (Historia Ecclesiastica 2.22.3) là người đầu tiên nhắc tới việc Thánh Phaolô bị cầm tù lần thứ hai tại Rôma và phúc tử đạo của Ngài dưới thời Nêrông: “Sau khi bào chữa cho mình, Thánh Phaolô lại được sai đi thi hành thừa tác vụ rao giảng của Ngài, và tới cùng một kinh thành như trước đây một lần nữa để chịu tử vì đạo dưới thời Nêrông. Lúc bị tù lần thứ hai này, Ngài viết thư thứ hai gửi Timôtê, đồng thời cho thấy rằng việc bào chữa lần đầu của Ngài có xẩy ra và phúc tử đạo của Ngài đã gần kề”. Sau đó, Eusebius còn trích lời Dionysius thành Côrintô (khoảng năm 170) cho rằng hai thánh Phêrô và Phaolô “chịu tử đạo cùng một lúc” (Historia Ecclesiatica 2.25.8). Tertullian (De praescr. 36) cho rằng cái chết của Thánh Phaolô giống như cái chết của Thánh Gioan Tẩy Giả nghĩa là bị chém đầu.

Lời chứng của Eusebius về cái chết của Thánh Phaolô dưới thời Nêrông bách hại được nhiều người chấp nhận. Tuy nhiên, cuộc bách hại này kéo dài từ mùa hè năm 64 tới lúc Nêrông băng hà (9 tháng Sáu, năm 68); nên khó mà xác định rõ được niên biểu cuộc tử đạo của Thánh Phaolô. Ghi chú của Dionysius thành Côrintô cho rằng hai Thánh Phêrô và Phaolô cùng chịu tử đạo một lúc thường được hiểu là cùng một năm, nhưng năm được nhiều người cho Thánh Phaolô chịu tử đạo là năm 67, vào cuối thời bách hại của Nêrông, giống như trình thuật của Eusebius. Tuy thế, niên biểu này không được mọi người chấp nhận và cũng không thể tránh khỏi các khó khăn của nó.

Tương truyền Thánh Phaolô được chôn tại Via Ostiensis, gần địa điểm hiện nay là Vương Cung Thánh Đường Thánh Phaolô Ngoại Thành. Năm 258, khi các ngôi mộ Kitô hữu bị đe doạ xâm phạm trong thời Valerian bách hại đạo, hài cốt Thánh Phaolô đã được cải táng đưa về một nơi gọi là Ad Catacumbas (hang toại đạo) trên Đường Appian một thời gian. Sau đó đã được đưa trở lại địa điểm nguyên thủy, nơi hoàng đế Constantino cho xây vương cung thánh đường của ông.